Hoạt động   >>   Tư vấn bệnh lây truyền qua đường tình dục
01-20-2017 14:34:47 GMT+7
|

BỆNH LÂY QUA TÌNH DỤC LÀ GÌ?

Bất cứ bênh nào được truyền từ người nàu sang người khác qua tiếp xúc hay quan hệ tình dục đều được được gọi là BLQTD

 

Tiếp xúc tình dục bao gồm giao hợp qua âm đạo, qua hậu hôn và miệng-sinh dục.

 

BLQTD là một nhóm các bệnh. Có loại chỉ biểu hiện bằng triệu chứng kích thích nhe, cảm giác khó chịu mơ hồ ở cơ quan sinh dục nhưng có thể gây ra hậu quả nặng nề như vô sinh ( không thể có con) nếu không được điều trị. nhiễm HIV/AIDS là một loại BLQTD nhưng chưa có thuốc trị khỏi và làm chết người.

 

Bất cứ ai cũng có thể mắc bệnh BLQTD. Bạn đừng bao giờ tin rằng chỉ có những có một  loại người nào đó mới có thể bị bệnh này còn người khác thì không. Điều này không đúng. Đa số những người mắc bệnh đều trông khỏe mạnh bình thường.

 

 
 

 

 

 

 

LÀM SAO BIẾT MÌNH CÓ BỊ BỆNH BLTQTD HAY KHÔNG

 

Đôi khi thật  khó nói bạn cho bạn biết rằng bạn có bệnh BLQTD hay không. Đối với một số bệnh BLQTD nào đó ví dụ như lậu , nhiễm trùng Chlamydia nhiều người có bệnh nhưng không có triệu chứng gì cả. Họ vẫn trông khỏe mạnh và cảm thấy bình thường với sức khỏe của mình tuy nhiên họ đang có bệnh đấy.

·     Nếu bạn  đã quan hệ với một  ngưới mà bạn nghỉ rằng người đó có bệnh , ngay cả khi gần đây bạn đã chấm dứt quan hệ với người này và đổi sang một bạn tình mới , bạn cũng cần phải được kiểm tra bằng xét nghiệm.

 

 

 

 

 

 

 

BỆNH NẤM CANDIDA

 

Triệu chứng: ở phụ nữ có huyết trắng bất thường màu trắng đục hoặc màu vàng kem. Huyết trắng khá đặc, có mùi men nhẹ. Da xung quanh âm đạo viêm đỏ và ngứa có thể lan rộng đến chung quanh hậu môn. Nam giới có thể bị nấm candida ở bao qui đầu và đầu dương vật với triệu chứng đỏ ngứa, thường gọi là viêm bao qui đầu.

 

Nguyên nhân: nhiễm nấm có tên Candida albicans. Mặt dù bệnh này không phải lúc nào cũng do giao hợp gây ra, nhưng nó có thể lây truyền qua đường tình dục. Bình thường ở nam và nữ nấm Candida sống bình thường ở cơ quan sinh dục, nhưng khi cơ thể thay đổi lượng hormon như uống thuốc ngừa thai mới, có thai có thể làm cho nó phát triển nhiều gây nên triệu chứng. Mặc quần lót chật, căng thẳng thần kinh (stress) và uống kháng sinh cũng có thể khuyến khích nấm bộc phát.

 

Chẩn đoán: xét nghiệm dịch tiết bất thường hoặc phát ban ngứa. Nấm có  thể xác định dưới kính hiển vi từ phiến phết.

 

Điều trị: đối với phụ nữ, bác sĩ kê toa thuốc kem chống nấm hoặc thuốc đặt âm đạo (viên thuốc tròn nhỏ, khi đặt vào trong âm đạo thuốc tan ra).

 

Chế độ ăn cân bằng, mặc áo quần bằng cotton rộng rải và đồ lót giữ cho cơ quan sinh dục mát và thông thoáng sẽ có ích. Phụ nữ dễ bị nhiễm nấm tránh mang vớ dài, và có thể dùng biện pháp phòng ngừa trong khi uống kháng sinh. Đôi khi có thể ngăn ngừa bằng tránh dùng quá nhiều xà phòng, và nâng lên cân bằng acid của âm đạo cũng như jel acid (ví dụ như jel acid, sẳn có từ dược sĩ) hoặc thụt rữa âm đạo với dung dịch giấm loãng và nước.

Nam giới cũng được kê toa kem để thoa. Họ cũng có thể phòng tránh được sự lây nhiễm bằng cách rữa ngay sau khi giao hợp nhưng tránh sử dụng quá nhiều xà phòng. Giao hợp nên tránh khi bị viêm sinh dục.

 

Nếu không điều trị thì thế nào?: Ngứa làm cho người bị nhiễm nấmkhó chịu. Nếu không điều trị, bệnh không nguy hiểm nhưng làm đương sự không được thoải mái khi quan hệ tình dục

 

Bạn tình: Lời khuyên cho cả hai giới là nên đưa bạn tình hiện tại đi kiểm tra và điều trị.

 

 

BỆNH DO TRICHOMONAS

 

Triệu chứng: phụ nữ có huyết trắng có bọt, đôi khi có màu vàng xanh, với mùi khó chịu. Cửa mình và các mép âm hộ có thể ngứa và khó chịu khi giao hợp. Triệu chứng thường xuất hiện trong vòng 4-14 ngày, đôi khi kéo dài hơn. Người đàn ông mang mầm bệnh thường không có triệu chứng, hoặc họ chỉ thấy một vài khó chịu khi tiểu hoặc tiết dịch ít. Những người này cũng cần được điều trị để ngăn ngừa truyền bệnh.

 

Nguyên nhân: do Trichomonas vaginalis, còn gọi trùng roi.

 

Chẩn đoán: soi tươi dịch tiết từ âm đạo hoặc niệu đạo là cách đơn giản nhất.

Đôi khi pap' mear cũng cho thấy trùng roi.

 

Điều trị: liều duy nhất hay uống liều 1 tuần điều trị cho cả 2 nam và nữ. Phụ nữ có thai cần điều trị với thuốc đặt âm đạo hoặc kem toa hơn thuốc uống. Không quan hệ tình dục đến khi hoàn tất điều trị và xét nghiệm kiểm tra âm tính.

 

Nếu không điều trị thì thế nào?:  Không trị, huyết trắng sẽ nhiều lên, người bệnh càng cảm thấy khó chịu và đau hơn, hiếm khi họ không nhận biết và buộc phải đi khám bệnh.

 

Bạn tình: Nên điều trị cho bạn tình của nam và nữ. Thường người nam mang mầm bệnh được truy tìm thông qua bạn tình nữ có triệu chứng.

 

 

VIÊM ÂM ĐẠO DO TRỰC KHUẨN

 

Triệu chứng: chủ yếu là có mùi khó chịu, có thể đi kèm (nhưng không phải luôn luôn) với dịch tiết âm đạo nhiều hơn bình thường.

 

Triệu chứng có thể rỏ hơn khi quan hệ tình dục hoặc gần ngày hành kinh.

 

Nguyên nhân: xảy ra khi vi khuẩn thường trú  ở âm đạo phát triển nhiều hơn mức bình thường. Một trong những vi khuẩn là Garnerella vaginalis. Liên quan đến mức acid âm đạo và những rối loạn môi trường âm đạo.

 

Chẩn đoán: soi tươi tiết chất từ âm đạo

 

Đôi khi pap' mear cũng cho thấy garnerella.

 

Điều trị:  Tùy thuộc thời gian viêm nhiễm mới bị hay đã bị lâu, có thể uống  liều duy nhất hay uống thuốc trong 1 tuần,. Gel acid (Aci gel từ các dược sĩ) và thục rửa âm đạo với nước/ dấm pha loãng gíup phòng ngừa tái phát.

 

Nếu không điều trị thì thế nào?: không gây bất cứ  vấn đề gì cho chính bản thân người phụ nữ và bạn tình của họ, và cần điều trị chỉ vì mùi hôi khó chịu.

 

Bạn tình: người phụ nữ cứ bị tái phát cần kiểm tra và điều trị bạn tình của họ.

 

 

GIANG MAI

 

Triệu chứng: khó biết. Vết loét không đau ở vùng sinh dục trong giai đoạn sớm, 2 đến 5 tuần sau khi nhiễm, và thường biến mất sau 2 đến 3 tuần, nhưng vi khuẩn vẫn còn tồn tại. Phụ nữ có thể không nhận biết các triệu chứng vì vết loét không đau và nếu bị loét ở thành âm đạo.

 

Giai đoạn 2, một ít người có thể thấy phát ban ở lòng bàn tay hay lòng bàn chân của họ và những phần khác của cơ thể. Triệu chứng của giai đoại 2 nếu có thường xãy ra từ 3 đến 12 tuần sau nhiễm.

 

Nguyên nhân: do trực khuẩn Treponema pallidum được truyền do tiếp xúc với vết loét hoặc các nốt đỏ trên da trong suốt giai đoạn sớm của bệnh.

 

Chẩn đoán: soi tươi dịch từ vết loét nếu có. Mặt khác xét nghiệm máu là cần thiết, nhưng cho đến 6 tuần sau khi bi nhiễm, xét nghiệm máu mới chính xác.

 

Điều trị: Tiêm penicilline 1 đến 3 mũi sẽ chữa lành giang mai

 

Không quan hệ tình dục cho đến khi hoàn tất điều trị

 

Nếu không điều trị thì thế nào?: Nếu không điều trị, qua nhiều năm vi khuẩn có thể ảnh hưởng lên bất cứ cơ quan nào. Tuy nhiên thời đại ngày nay, với điều kiện y tế phổ biến như xét nghiệm, thuốc men , ít  khi có trường hợp bệnh tiến triển đến giai đoạn nguy hiểm. Xét nghiệm giang mai lc mang thai hoặc trước khi sanh l cch phòng ngừa lây từ người mẹ bị nhiễm mà không biết sang bào thai.

 

Bạn tình: Truy tìm dấu vết của bạn tình cho cả 2 giới có thể di ngược lại nhiều tháng và thậm chí nhiều năm, phụ thuộc vào người đó đã bị nhiễm bệnh bao lâu. Một người bị giang mai thường chù yếu bị lây trong 2 năm đầu. Kết quả xét nghiệm máu có thể sơ bộ cho biết người này đã bị nhiễm khoảng bao lâu rối.

 

 

RẬN MU

 

Triệu chứng: chủ yếu là ngứa ở vùng lông mu. Nhìn gần ta có thể thấy đốm rận nhỏ dính chặt vào lông mu. Cũng có trứng rận bám vào thân sợi lông.

 

Nguyên nhân: hầu hết thường do con rận (Pthirus pubis) bò từ người này sang người khác trong lúc tiếp xúc thân mật.

 

Chẩn đoán: kiểm tra lông mu dưới ánh sáng tốt

Điều trị: thường tự điềi trị với dầu gội rận hoặc dung dịch (như Quellada hoặc Lorexane) từ dược sĩ. Những người nhiều lông (như lông ngực và lông nách) nên gôi tất cả vùng đó không chỉ lông mu ( Có một vài dầu gội rận không thích hợp cho phụ nữ có thai vì vậy luôn luôn kiểm tra).

 

Không cạo lông, nhưng chải trứng rận ra ngoài bằng lược răng nhỏ trong khi gội. Giặt khăn trải giường, khăn tắm và quần áo với nước nóng để tránh tái nhiễm, và lập lại toàn bộ quá trình trong tuần sau để diệt bất cứ trứng mới nỡ nào (kiểm tra sự hướng dẫn trên chai). Nếu bạn nghĩ rận được lây qua đường tình dục, kiểm tra đầy đủ BLTQĐTD chỉ trong trường hợp này.

 

Nếu không điều trị thì thế nào?: bạn sẽ tiếp tục ngứa! Không điều trị rận sẽ lan sang bạn tình của bạn.

 

Bạn tình: bạn tình thường xuyên cần điều trị. Kể cả với bạn tình 4 tuần trước.

 

 

GHẺ

 

Triệu chứng: ngứa dữ dội do các con cái ghẻ đào dưới da đễ đẻ trứng, để lại những dấu đỏ trên da. Cái ghẻ thích những vùng da ấm, đặt biệt ở bẹn và nách. Ngứa thường thường tệ hơn khi ấm trên giường. Nó thường ghi nhận trong 4 tuần.

 

Nguyên nhân: con cái ghẻ rất nhỏ (Sarcoptes scabiei), nhỏ hơn con rận và khó thấy. Lây qua tiếp xúc da với da.

 

Chẩn đoán: khám những vùng ngứa và kiểm tra triệu chứng.

 

Điều trị: dung dịch đặc biệt từ các nhà dược sĩ thừong là thoa từ cổ xuống (dù một số nhãn không thích hợp cho phụ nữ có thai). Giặt khăn trải giường, khăn tắm và quần áo với nước nóng. Thoa 1 lần trong 24 giờ thường giết chết cái ghẻ, nhưng lập lại 1 tuần sau đó (cùng với giặt khăn trải giườngvà các đồ khác). Nếu bạn nghĩ ghẻ được lây qua đường tình dục, kiểm tra đầy đủ BLTQĐTD chỉ trong trường hợp này.

 

Nếu không điều trị thì thế nào?: không chắc có thực! Ngứa quá dữ dội! Ngứa sẽ tiếp tục và con cái ghẻ sẽ lan sang bạn tình và các thành viên của gia đình bạn.

 

Bạn tình: cho cả 2 giới, bạn tình thường xuyên và tất cả những người sống trong nhà nên điều trị. Kể cả với bạn tình 4 tuần trước.

 

 

U MỀM LÂY

 

Triệu chứng: những sẩn giống như mụn nhọt chắc và không đau có màu vàng nhạt.

 

Nguyên nhân: virus truyền trực tiếp qua da tiếp xúc. Sẩn xuất hiện (sau 2-7 tuần) ở cơ quan sinh dục hay bộ phận khác của cơ thể nơi tiếp xúc.

 

Chẩn đoán: bằng vẻ ngoài riêng biệt, nhưng đôi khi có thể bị nhầm lẫn với mụn cóc.

 

Điều trị: nạo để lấy đi lỏi và bôi hóa chất đặc biệt. Điều này nênđược làm bởi bác sĩ

 

Nếu không điều trị thì thế nào?: chúng có thể tự biến mất nhưng cũng có thể lan rộng. Không là vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

 

Bạn tình: bạn tình 2 tháng trước cần được kiểm tra và điều trị nếu cần thiết.

 

 

VIÊM GAN SIÊU VI B

 

Triệu chứng: có thể thay đổi từ nhẹ, không biết bị nhiễm đến bệnh rõ ràng with vàng da (điều này nghĩa là nhuốm nàu da, tròng tắng mắt, nước tiểu sâm và phân xám), sốt, chán ăn, ngũ lịm và đau khớp. Những triệu chứng này thường xuất hiện từ 1-6 tháng sau khi nhiễm.

 

Nguyên nhân: virus viêm gan B ảnh hưởng lên gan. Virus có thể hiện diện và truyền trong dịch của cơ thể, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, nước bọt và đặt biệt trong máu, loại máu nguy cơ thật sự là những người dùng ma túy với bơm kin tiêm chung.

 

Chẩn đoán: bằng xét nghiệm máu

 

Điều trị: nghĩ ngơi và tránh rượu dường như là cách tốt nhất để đối phó với nó, mặc dù hồi phục có thể xảy ra trong vài tháng. Viêm gan siêu vi B là BLTQĐTD duy nhất có vaccine phòng ngừa. Điều này có ích để bảo vệ bạn tình của những người lành mang virus. Quan trọng là tránh quan hệ tình dục trong giai đoạn viêm nhiễm.

 

Nếu không điều trị thì thế nào?: thường nó tự giải quyết trong vòng 2-3 tháng. Một số ít bệnh nhân để lại bệnh gan tiến triển. Thỉnh thoảng có người vẩn tiếp tục lây nhiễm trở thành người mang virus viêm gan B, vì vậy quan trọng là phải xét nghiệm theo dỏi sau 3-6 tháng để bảo đảm hết nhiễm. Xét nghiệm máu cũng được làm để chắc là gan đang hồi phục đúng mức. Có lẽ rất đúng khi phụ nữ có thai, họ là người mang trùng và lây truyền cho con họ, nhưng điều này có thể được phòng ngừa bằng cách cho bé dùng immunoglobulin và vaccine ngay lập tức khi chào đời. Em bé bị nhiễm lúc mới sanh có nguy cơ rất cao là người mang trùng, và có bệnh gan ở giai đoạn trưởng thành.

 

Bạn tình: bạn tình 2 tuần trước có thể được giúp đỡ bằng tiêm globulin đặc biệt (không phải vaccine) sẳn có tử bác sĩ hoặc phòng khám BLTQĐTD, nhưng tất cả bạn tình trong vòng 6 tháng nên làm xét nghiệm. Với những người vẫn còn lây nhiễm (người mang trùng) quan trọng chích ngừa cho các bạn tình tương lai.

 

 

ĐIỀU GÌ BẠN NÊN BIẾT VỀ HIV VÀ AIDS

 

Nguyên nhân: vires tấn công vào một loại bạch cầu đặc biệt, phá hủy hệ thống miễn dịch của cơ thể - điều này có nghĩa bạn không thể chống lại nhiễm trùng. Bạn có thể bệnh và chết từ những bệnh mà cơ thể bình thường có thể chống lại. Bất cứ người nào nhiễm virus AIDS vẫn nhiễm, nhưng không phải ai nhiễm cũng bệnh và chết.

 

Kết quả: bởi vì bệnh liên quan đến AIDS có thể có giai đoạn ủ bệnh dài, một người nào đó có thể có virus trong máu và không có triệu chứng. Một xét nghiệm máu đơn giản (3 tháng sau nguy cơ tiếp xúc) có thể báo cho chúng ta biết có nhiễm hay không. Mặc dù có một vài người có thể không bao giờ bệnh, những người khác phát triển tình trạng liên quan đến AISD (ARC) và có thể không khỏe thỉnh thoảng, phần còn lại của cuộc đời họ. Những người khác phát triển thành AIDS đầy đủ, nghĩa là họ sẽ chết, thường trong vài năm.

 

Truyền bệnh: bất cứ người nào có thể bị. Bạn không có quan hệ tình dục đồng giới cũng bị. Nếu bạn có giao hợp qua âm đạo hoặc hậu môn (không dùng bao cao su), hoặc dùng kim chung, bạn có nguy cơ. Nhiều người có virus AIDS mà không biết. Virus được truyền từ một người sang những người khác chủ yếu quatinh dịch, máu và dịch tiết âm đạo trực tiếp vào bên trong cơ thể của người khác. Bạn không thể nhiễm nó giống như bị cảm lạnh.

 

Tình dục không an toàn: quan hệ tình dục không an toàn nếu tinh dịch hoặc dịch tiết âm đạo truyền từ người nhiễm sang bạn tình của họ. Cẩ thận dùng bao cao su với chất bôi trơn bằng nước có giúp ngăn chặn sự truyền bệnh, nhưng nhớ chúng dễ bị bể khi quan hệ qua hậu môn, vì thế không nên dựa vào chúng nếu bạn hoặc bạn tình của bạn đang mang virus.

 

Kim chung: khi một người nào đó dùng kim hoặc ống chích để tiêm thuốc, một ít máu nhỏ để lại trong kim. Nếu máu có chứa virus AIDS, người kế dùng kim đó - ngoại trừ nó được tiệt khuẩn đúng - sẽ tiêm vào chính bản thân họ máu đã nhiễm.

 

Truyền máu: giữa năm 1980-1985, máu người Úc cung cấp không được bản vệ đầy đủ bằng xét nghiệm kháng thể, và một vài người đã bị nhiễm. Nếu bạn có truyền máu trong giai đoạn đó, bạn nên làm xét nghiệm AIDS.

 

Thai kỳ: phụ nữ mang virus AIDS, và thấy rằng có thai hoặc đã mang thai nên nói chuyện với các tham vấn viên về nguy cơ của bản thân họ và của em bé.

Điều trị: hiện nay chưa có chữa lành, và điều trị thực nghiệm.

 

Bạn tình: người có kháng thể dương tính nên thông bán cho các người sử dụng bơm kim tiêm với họ và bạn tình có quan hệ tình dục không an toàn. Người nào đó không làm xét nghiệm trong quá khứ  và nay xét nghiệm dương tính có thể quay trở lại như giai đoạn đầu 1980/ 1981 khi AIDS xuất hiện đầu tiên ở Úc. Tham vấn viên BLTQĐTD và AIDS có thể giúp bạn vạch ra những ảnh hưởng có thể có và giúp bạn cách thông tin đến họ    

 

Tiệt trùng kim tiêm: làm sạch kim tiêm và ống chích

·     Xả 2 lần trong nước sạch

·     Xả 2 lần trong nước sát trùng

·     Xả 2 lần trong nước sạch

 

 

 

 

1) Viêm niệu đạo không đặc hiệu:

Còn được gọi tắt là NSU hoặc NGU ( viêm niệu đạo không do lậu), đây là một bệnh BLTQĐTD thöông gặp nhất tại Úc. Điều này có nghĩa là không phải bất kỳ trường hợp viêm niệu đạo nam ( qua đường niệu) nào cũng được chẩn đoán là lậu. Thuật ngữ này chỉ được dùng cho nhiễm trùng ở nam giới. Ở nữ giới, đôi khi cũng gọi là viêm niệu đạo không đặc hiệu theo loại vi chuẩn gây viêm nhiễm, chẳng hạn như chlamydia hoặc trichomononiasis ( xem thêm thông tin trên trang này và trang 12).

+ Triệu chứng:

Nam giới có tiết dịch đục hoặc trắng sáng ở niệu đạo và/ hoặc khó chịu, hoặc tiểu buốt. Dịch tiết có thể dai dẳng hoặc chỉ có tiết dịch vào buổi sáng. ( Dịch tiết ở đây không phải là tinh dịch hoặc dịch tiết từ dương vật trước khi xuất tinh). Thường viêm nhiễm xuất hiện khoảng 2 đến 4 tuần sau quan hệ tình dục với người bị nhiễm.

Một số trường hợp không có triệu chứng, nhưng xét nghiệm có thể phát hiện nếu có NSU.

+ Nguyên nhân:

Nhiều loại vi chuẩn ( như chlamydia) lây nhiễm niệu đạo nam qua tiếp xúc tình dục trực tiếp. Chúng cũng có thể lây truyền cho nữ giới hoặc nam giới khác qua cổ tử cung, trực tràng hoặc miệng.

+ Chẩn đoán:

Soi tươi dịch tiết niệu đạo.

+ Điều trị:

Thường điều trị kháng sinh  nhóm Tetracycline ( không phải Penicillin) đợt 10 14 ngày. Không nên quan hệ tình dục hoặc uống rượu trong thời gian điều trị.

+ Ảnh hưởng như thế nào nếu không được điều trị ?

Biến chứng có thể xuất hiện, trong vài trường hợp viêm nhiễm lan rộng đến tuyến tiền liệt hoặc tinh hoàn.

+ Bạn tình: tất cả những bạn tình có tiếp xúc tình dục trong suốt thời kỳ ủ bệnh và nhiễm bệnh ( khoảng 6 tuần) nên thăm khám và điều trị ngay cả khi không có triệu chứng. ( xem phần Chlamydia và bệnh viêm cổ tử cung trên trang này và trang 9.)

 

2. CHLAMYDIA:

+ Triệu chứng:

Nữ giới có thể nhiễm vi khuẩn này và thường không biết, mặc dù vài trường hợp có tiết dịch âm đạo hoặc tiểu buốt. Thoạt đầu, nữ giới có lẽ nghi ngờ nhiễm khi bạn tình có NSU, hoặc khi xuất hiện triệu chứng của bệnh viêm cổ tử cung (PID). Đối với quan hệ tình dục qua đường hậu môn, gây nhiễm ở trực tràng có lẽ không có dá6u hiệu báo trước. Những triệu chứng ở nam giới cũng tương tự như  nhiễm NSU ( xem NSU bên trái).

+ Nguyên nhân:

Chlamydia trachomatis, vi khẩn gây nhiễm cổ tử cung, đường niệu, trực tràng, và họng. Nữ giới sử dụng dụng cụ tránh thai (IUD) sẽ làm tăng tỉ lệ nhiễm Chlamydia.

+ Chẩn đoán: soi tươi dịch tiết lấy ở vị trí nhiễm. Kết quả được biết trong vài ngày.

+ Điều trị: điều trị sớm đợt 10 ngày với kháng sinh thuộc nhóm tetracycline ( không phải penicillin) là quan trọng để tránh biến chứng nghiêm trọng. Không quan hệ tình dục trong thời gian điều trị.

+ Ảnh hưởng như thế nào nếu không điều trị?

Chlamydia có thể gây PID - từ đó có thể gây viêm tai vòi và có thể gây vô sinh hoặc diễn tiến biến dạng cổ tử cung.

+ Bạn tình:

Tất cả những bạn tình gần đây ( bất kỳ bạn tình trong 5 tuần vừa qua hoặc xa hơn) nên được thăm khám và được điều trị, ngay cả khi họ không có triệu chứng. Một số trường hợp nữ giới có lẽ nhiễm Chlamydia trong nhiều tháng mà không hay biết, cần thăm khám cho những bạn tình gần đây.

 

3) LẬU:

+ Triệu chứng:

Ở nữ giới thường không có triệu chứng, mặc dù đôi khi có tiết dịch âm đạo hoặc tiểu rát, buốt. Nam giới có tiết dịch mũ màu vàng hoặc hơi trắng ở dương vật (dính vào quần lót) và / hoặc cảm giác bỏng rát khi tiểu.

Nhiễm ở trực tràng do quan hệ tình dục qua đường hậu môn có lẽ không gây triệu chứng đáng chú ý nào. Nhiễm qua quan hệ tình dục bằng đường miệng có lẽ gây viêm họng , nhưng thường không có triệu chứng.

Ở nam giới triệu chứng xuất hiện khoảng 2 đến 10 ngày sau tiếp xúc tình dục.

+ Nguyên nhân:

Vi chuẩn lậu Neisseria gonorrhoeae có thễ gây viêm ở cổ tử cung, đường tiểu, trực tràng hoặc họng sau tiếp xúc tình dục trực tiếp với bạn tình bị nhiễm.

+ Chẩn đoán:

Xét nghiệm dịch tiết cổ tử cung, họng, trực tràng hoặc dương vật ( phụ thuộc hình thức tiếp xúc tình dục). Vài trường hợp kết quả có ngay lập tức, số khác thì có trong vài ngày.

+ Điều trị:

Thường dùng 1 liều kháng sinh duy nhất, đôi khi dùng penicillin - mặc dù thường dùng nhiều ngày kháng sinh khác có lẽ cần thiết bởi vì vi khuẩn lậu có lẽ đề kháng với PNC.

Một bệnh nhân ( hoặc bạn tình của họ) hiện ở nước ngoài nên báo cho Bác sĩ. Điều này giúp cho chẩn đoán và điều trị ( có vài chủng lậu đề kháng PNC ở nước ngoài hơn tại địa phương). Không được quan hệ tình dục cho đến khi xét nghiệm theo dõi trở về âm tính .

+ Ảnh hưởng như thế nào khi không điều trị?

Lậu có thể gây viêm ở tai vòi hoặc viêm cổ tử cung ở nữ giới, có thể gây vô sinh. Ở nam giới, gây biến chứng viêm nhiễm tới tinh hoàn, gây đau đáng kể và nguy cớ vô sinh. Vài trường hợp nam giới có sai lầm là nghĩ rằng dịch tiết sẽ hết mà không cần điều trị. Nhưng viêm vẫn còn, ngay cả khi triệu chứng không còn, vì vậy điều trị là cần thiết.

+ Bạn tình:

Nam giới bị nhiễm nên báo cho các bạn tình trong 3 tuần gần nhất trước khi triệu chứng bắt đầu, và bất kỳ bạn tình nào gần đây. Ở nữ giới, không có triệu chứng gây khó khăn cho chẩn đoám xác định khi bắt đầu nhiễm. Có lẽ cũng nên thăm khám bạn tình trong vài tháng qua.

4) Bệnh viêm cổ tử cung (PID):

+ Triệu chứng:

Đau vùng bụng dưới và nhạy cảm, đau dữ dội trong khi quan hệ tình dục, thời gian đau kéo dài, đau nhiều hơn, kèm sốt. Một hoặc tất cả triệu chứng này có thể xuất hiện, nhưng thường không xuất hiện trong nhiều tuần hoặc thậm chí nhiều tháng. Sau nhiễm ở người sử dụng IUD thường có triệu chứng cấp và sớm hơn.

+ Nguyên nhân:

Chlamydia và Gonorrhoea là 2 tác nhân gây bệnh thường gặp nhất, thường bắt đầu gây viêm ở cổ tử cung và nếu không điều trị sẽ lan ra đường tiểu, tai vòi và vòi trứng.

+ Chẩn đoán:

Sự thăm khám và soi tươi cổ tử cung để phát hiện Chlamydia và Gonorrhoea. Bác sĩ cũng sẽ phát hiện bằng dấu hiệu tenderness hoặc đau.

+ Điều trị:

Đợt điều trị kháng sinh ít nhất 14 ngày kèm đánh giá diễn tiến để điều trị chính xác và nên chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác.

Những trường hợp nặng cần phải nhập viện (để điều trị kháng sinh chích). Tái phát PID rất nghiêm trọng, gây gia tăng rõ rệt nguy cơ vô sinh. Không quan hệ tình dục cho đến khi hết viêm. Bất kỳ bạn tình có PID nên thường xuyên sử dụng bao cao su để ngăn ngừa tái nhiễm cho đến khi họ có quan hệ tình dục an toàn được xác định.

+ Ảnh hưởng như thế nào nếu không điều trị?

PID có thể gây thương tổn tai vòi, gây vô sinh và/ hoặc nguy cơ gây thai lạc chỗ. Xảy ra khi trứng thụ tinh ở trong tai vòi gây đau cấp và xuất huyết nội, yêu cầu phẫu thuật).

+ Bạn tình:

Nữ giới bị nhiễm phải báo cho những người tiếp xúc tình dục trong vài tháng qua. Những bạn tình này nên được thăm khám và điều trị ngay cả khi họ không có triệu chứng.

 

5) SÙI SINH DỤC:

+ Triệu chứng:

Sùi, thường không đau, khởi đầu swelling nhỏ ở sinh dục, đôi khi tiến triển thành sùi mồng gà. Một số sùi khác, phẳng hoặc chắc hơn. Vài trường hợp nữ giới có lẽ có sùi trong âm đạo hoặc trên cổ tử cung rất khó nhận biết. Ở nam giới, sùi thường trên dương vật và thường thấy rõ. Cả 2 giới, sùi sinh dục có thể cũng xuất hiện quanh hậu môn. Thời gian ũ bệnh thường khoảng vài tháng sau nhiễm. Ở nữ giới, vi rút gây sùi sinh dục được phát hiện bằng Pap smear. 

+ Nguyên nhân:

Do vi rút HPV lây trực tiếp từ da tới da khi quan hệ tình dục với bạn tình bị nhiễm.

+ Chẩn đoán:

Được xác định qua thăm khám da cẩn thận. Bác sĩ có lẽ cũng xem xét vùng sùi tiềm tàng với dụng cụ phóng to. Sau chấm da với dung dịch đặc hiệu. Điều này có lẽ cần thiết cho bạn tình không có sùi rõ ràng. Nữ giới nên làm soi tươi hoặc cấy nếu họ hoặc bạn tình của họ được chẩn đoán là sùi sinh dục.

+ Điều trị:

Thường đơn giản như áp tuyết (CO2) hoặc chấm sùi với hóa chất đặc hiệu - là 1 việc cần chuyên gia ( bạn không nên tự ý làm vì có thể làm tăng thương tổn). Trị liệu khác như Laser, Diathermy (trị liệu nóng) hoặc tiểu phẩu. Đôi khi, sùi không khỏi hẳn với đợt điều trị đầu tiên, vì vậy theo dõi sau điều trị là quan trọng. Cần thảo luận với BS để đưa ra những trị liệu thích hợp nhất. Không quan hệ tình dục trong thời gian điều trị và sử dụng bao cao su trong vài tháng sau điều trị để đảm bảo sùi biến mất hoàn toàn và ngăn ngừa tái phát.

+ Anh hưởng như thế nào nếu không được điều trị ?

Sùi có thể tự biến mất, nhưng thường số lượng sang thương nhiều. Sùi có thể lây cho người khác qua tiếp xúc tình dục và được xem là vấn đề cảnh báo. Vài trường hợp nữ giới, một số chủng virút gây biến đổi tế bào cổ tử cung, nếu không điều trị có thể gây tiền ung thư cổ tử cung.

+ Bạn tình:

Cả 2 giới, xác định lại các  bạn tình lại trong nhiều tháng trước, vì thời kỳ ủ bệnh của sùi sinh dục kéo dài. Liên lạc trung tâm BLTQĐTD beänh vieän Sydney để biết thêm chi tiết từ phòng khám đặc biệt dành cho nam giới với sùi sinh dục không có triệu chứng.

 

6) HERPES SINH DỤC:

+ Triệu chứng:

Đau, ngứa hoặc mụn dộp hoặc loét ở sinh dục. Có thể có triệu chứng như cúm và, đôi khi, đau khi tiểu, đó là dấu hiệu sơ nhiễm. Đôi khi cả 2 giới dấu hiệu phồng rộp do vi rút thường không rõ ràng lắm. Có lẽ có mảng đỏ do mụn nước vỡ. Khởi đầu xuất hiện trong vài ngày hoặc đôi khi sau lây nhiễm.

+ Nguyên nhân:

Do vi rút gây bệnh là HSV (Herpes Simplex Virus), type I và II. Herpes sinh dục gây nhiễm ở da sau tiếp xúc trực tiếp với da của người bệnh với Herpes họat tính Vị trí thường gần hoặc trên vùng sinh dục, hoặc quanh miệng, thường được gọi là vết lở. Trong trường hợp quan hệ tình dục bằng miệng, vi rút có thể lây từ vết lở đến vùng sinh dục. Mặc dù tự lành, nhưng virut thường lưu trú trong hệ thống. Điều này có nghĩa rằng thậm chí sau khi lành, bạn cũng không nên tiếp xúc với bạn tình bị nhiễm vì virut có thể tái xuất hiện.

+ Chẩn đoán:

Thăm khám và xét nghiệm ở vị trí mụn dộp hoa75c loét lúc triệu chứng vẫn còn. Xét nghiệm máu không đáng tin cậy.

+ Điều trị:

Chống virut  5 – 10 ngày ( như acyclovir) có lẽ cho nhiễm sơ phát nếu trường hợp cấp. Acyclorvir không phải để điều trị, mà giúp tăng tốc độ lành, cũng như tắm bằng nước muối lạnh, mặc quần áo rộng và đố lót bằng cotton, nghỉ ngơi và uống nhiều nước để làm …  nước tiểu cũng góp ích trong điều trị. Một điều quan trọng giữ cho vùng nhiễm khô ( máy sấy tóc chế độ “ cool” rất có ích cho bệnh nhân nữ. Herpes sinh dục tái phát ít đau, có thể giúp ngăn ngừa khởi phát bệnh. Một chế độ ăn kiêng, nghỉ ngơi, tập thể dục, và kiểm soát stress thường cải thiện việc tái phát herpes sinh dục. Thời gian tái phát rất khác tùy theo từng người bệnh. Không quan hệ tình dục cho đến khi da trở về bình thường.

+ Anh hưởng như thế nào nếu không điều trị?

Không điều trị, mụn nước sinh dục sẽ tự lành, nhưng điều trị sẽ rút ngắn thời gian lành. Nên nhớ rằng quan hệ tình dục khi herpes hoạt động giúp thúc đẩy bạn tình của bạn vào đối tượng nguy cơ.

+ Hepes và thai kỳ:

Phụ nữ có thai nên báo cho BS nếu cô ấy hoặc bạn tình cô ây có tiền sử Herpes sinh dục, để swabs thận trọng, có thể được tiến hành trong tháng cuối thai kỳ.

+ Bạn tình:

Những bạn tình gần đây nhất nên được thông báo và kiểm tra càng sớm càng tốt. Bạn tình quá 1 tháng và xa hơn nữa cũng nên kiểm tra. Virut có thể lây trong thời kỳ sơ nhiễm. Để bảo vệ bạn tình tránh tiếp xúc tình dục với vùng chỉ điểm đầu tiên của sơ nhiễm ( ví dụ ngứa hoặc mụn dộp  ... ) cho đến khi da trở về bình thường ( khỏang 5 – 10 ngày). Nếu còn nghi ngờ, sử dụng bao cao su hặoc tránh quan hệ tình dục. Bao cao su là sự lựa chọn tốt, nhất là trong trường hợp nhiễm không có triệu chứng. Hãy nêu vấn đề này với bạm tình của bạn. 

 

Tin mới hơn